DỊCH HẠCH
(La Peste)

Albert Camus

NGUYỄN TRỌNG ĐỊNH dịch


Kỳ 16

Nhưng do tiếp tế ngày càng khó khăn nên người ta có những mặt lo lắng khác. Nạn đầu cơ góp phần vào trong đó, và người ta bán với giá không sao tưởng tượng nổi những nhu yếu phẩm lúc đó khan hiếm trên thị trường. Các gia đình nghèo lâm vào tình thế rất vất vả, trong lúc các gia đình giàu có hầu như không thiếu một thứ gì. Nhẽ ra với hiệu lực của hoạt động không thiên vị của nó, dịch hạch phải tăng cường sự bình đẳng giữa các đồng bào chúng tôi, nhưng trái lại, do tác động tự nhiên của những lề thói ích kỷ, nó lại làm cho ý thức về sự bất công càng thêm gay gắt trong lòng người. Dĩ nhiên, còn lại sự bình đẳng tuyệt đối trước cái chết, nhưng không ai muốn có thứ bình đẳng đó. Bị đói, người nghèo càng luyến tiếc nhớ tới những thành phố và vùng nông thôn lân cận, nơi cuộc sống được tự do và bánh mì không đắt đỏ. Vì không đƣợc tiếp tế đầy đủ, họ đâm ra phải suy nghĩ kể cũng hơi vô lý là nhẽ ra người ta phải để cho họ ra đi. Tới mức có tin đồn đại rằng thỉnh thoảng trên tường, người ta đọc thấy, hoặc có khi, trên đường ông tỉnh trưởng đi qua người ta nghe vang lên, khẩu hiệu: “Bánh mì hoặc không khí”. Cái công thức hài hước ấy là hiệu lệnh cho một vài cuộc biểu tình bị nhanh chóng dập tắt, nhưng ai cũng thấy rõ tính chất nghiêm trọng của tình hình.
Dĩ nhiên, báo chí tuân theo mệnh lệnh nhận được là phải lạc quan với bất kỳ giá nào. Đọc báo, ngƣời ta thấy đặc điểm của tình hình là “tấm gương bình tĩnh và dũng cảm đáng xúc động” của dân chúng. Nhưng trong một thành phố hoàn toàn khép kín, trong đó không thể bưng bít được gì hết, không một ai bị đánh lừa về “tấm gương” của cả cộng đồng. Và muốn có một khái niệm chính xác về sự “bình tĩnh và dũng cảm” báo chí nêu lên, chỉ cần bước vào một nơi kiểm dịch hay một trại cách ly do cơ quan Nhà nước tổ chức. Có thể là người kể chuyện ở đây, bị gọi đến chỗ khác, không được biết những nơi đó. Cho nên chỉ xin viện dẫn lời thuật lại của Tarrou.
Thật vậy, trong sổ tay. Tarrou kể lại một buổi anh cùng Rambert đến thăm trại cách ly trên sân vận động thành phố. Sân vận động nằm sát cửa ô, một phía ngoảnh ra đường xe điện, một phía ra những khu đất hoang chạy dài tận chân đồi nơi thành phố được xây dựng. Bao quanh sân là những bức tường cao bằng ximăng và chỉ cần đặt người gác ở bốn cửa ra vào là bệnh nhân không sao bỏ trốn được. Và tường cũng ngăn cản không cho người phía ngoài, do tò mò, quấy nhiễu những người khốn khổ bị cách ly kiểm dịch. Trái lại, những người này, suốt ngày, nghe, tuy không nhìn thấy, những chuyến xe điện chạy qua, và khi nghe tiếng ồn ào náo nhiệt trên xe, đoán được giờ đến sở hay giờ tan sở của viên chức. Họ thấy cuộc sống, mà họ bị loại trừ ra khỏi, vẫn tiếp diễn chỉ cách mình có vài mét, và những bức tường ximăng chia cắt hai thế giới còn xa lạ với nhau hơn là những thế giới trên hai hành tinh khác nhau.
Tarrou và Rambert đến sân vận động vào một buổi chiều chủ nhật. Cùng đi với họ có Gonzalès anh chàng chơi bóng đá, mà Rambert đã tìm gặp lại và cuối cùng anh ta nhận lời luân phiên canh gác sân vận động. Rambert phải giới thiệu anh ta với quản lý trại. Lúc họ gặp nhau, Gonzalès bảo Tarrou và Rambert là trước khi có dịch hạch, đúng vào giờ này, anh ta ăn mặc để ra sân thi đấu. Nhưng bây giờ, sân vận động đã bị trưng dụng không còn thi đấu được nữa, Gonzalès cảm thấy và có vẻ hoàn toàn thất nghiệp. Đấy là một trong những lý do anh nhận canh gác, với điều kiện chỉ vào những ngày cuối tuần không thôi. Trời ít mây và, ngước mắt lên, Gonzalès với thái độ tiếc rẻ, cho rằng thời tiết không mưa cũng không nắng này là lý tưởng cho một trận đấu. Anh cố gợi lại mùi dầu xoa trong nhà thay quần áo, những khu khán đài chật ních người như chỉ muốn sụp đổ, những chiếc mayô sặc sỡ trên sân bãi với thảm cỏ màu hung, những quả chanh lúc nghỉ giải lao hay chai limônat tê tê như châm vào những cái cổ họng khô khốc hàng ngàn chiếc kim mát lạnh. Tarrou ghi thêm là trên suốt chặng đường, anh chàng vận động viên luôn luôn giơ chân đá những viên sỏi trên những con đường sụt lún ở ngoại thành. Anh ta cố đá trúng vào miệng cống và mỗi lần đá trúng, là thốt lên “một, không”. Hút hết điếu thuốc, anh ta nhả mẩu thuốc còn lại xuống lơ lửng trước mặt và giơ chân đá tung lên. Gần tới sân vận động, quả bóng của trẻ nhỏ đang chơi rơi vào chỗ họ và Gonzalès vội đá trả lại chúng một cách chính xác.
Cuối cùng họ bước vào sân vận động. Khán đài chật ních. Nhưng sân bãi thì phủ kín hàng mấy trăm chiếc lều bạt màu đỏ, trong đó, người ta nhìn thấy từ xa chăn nệm và balô. Khán đài được giữ lại để những người bị nhốt có thể tránh mưa, nắng. Mặt trời lặn, họ mới phải trở về lều. Phía dưới khán đài, là những vòi nước tắm lắp sẵn và những phòng thay quần áo ngày trước của các vận động viên nay biến thành văn phòng hay bệnh xá. Phần lớn những người bị nhốt đang ở trong các khán đài. Những người khác đi dạo trên các đường biên. Một vài người ngồi xổm trước cửa lều và bâng quơ nhìn mọi vật. Trên khán đài, nhiều người đã nằm sóng soài và có vẻ chờ đợi.
- Ban ngày họ làm gì? Tarrou hỏi Rambert.
- Không làm gì hết.
Thật vậy, hầu hết mọi người đều hai cánh tay đu đưa và hai bàn tay không. Cái đám người mênh mông này im lặng như tờ đến kỳ lạ.
- Những ngày đầu, ở đây, nói không sao nghe được. Rambert cất tiếng. Nhưng càng ngày, họ càng ít nói đi.
Theo những lời ghi chép của Tarrou, thì anh hiểu họ, và lúc đầu, anh thấy họ ngồi túm tụm lại trong lều chỉ biết cào gãi hay nghe tiếng ruồi vo ve, và hễ có ai chịu nghe, là họ thốt lên nỗi giận dữ hay lo sợ trong lòng. Nhưng từ khi trại chật cứng người là người, thì ngày càng ít đi những cái tai sẵn sàng nghe. Vì vậy họ chỉ còn im lặng và nghi ngờ. Quả là có một thứ nghi ngờ từ trên bầu trời xám xịt tuy vẫn có ánh sáng, trút xuống cái trại đỏ rực này.
Đúng, mọi người ở đây đều có vẻ nghi ngờ. Vì bị ngăn cách với những người khác, nên họ nghi ngờ không phải không có duyên cớ và họ lộ bộ mặt của những người đang tìm kiếm những lý do của mình và sợ hãi. Tarrou thấy ai nấy đều có ánh mắt trống rỗng, đều có vẻ đau khổ vì nỗi cách biệt mênh mông với tất cả những gì tạo nên cuộc sống của họ. Và vì không phải bao giờ cũng có thể nghĩ đến cái chết, nên họ không nghĩ tới gì hết. Họ đang nghỉ hè, nhưng cái tồi tệ hơn hết, Tarrou viết tiếp, là họ là những kẻ bị bỏ quên và họ biết điều đó. Những người quen biết họ đã quên họ vì người ta nghĩ tới cái khác và đó là điều rất dễ hiểu. Còn những người yêu thương họ thì cũng quên họ vì đã kiệt cả sức lực trong những việc chạy vạy và những lo toan để đưa họ ra khỏi trại. Mãi lo nghĩ tới việc ra trại ấy, người ta không còn nghĩ đến những người cần đưa ra nữa. Âu cũng là việc thường tình. Và cuối cùng, người ta nhận thấy không ai có thể thực sự nghĩ tới ai, dù là trong cơn hoạn nạn tồi tệ nhất. Vì thực sự nghĩ tới một ai đó, là phải nghĩ tới từng phút một, không vì bất cứ một việc gì mà lãng quên, dù là công việc nội trợ, là con ruồi bay qua, là những bữa ăn, là một sự ngứa ngáy. Nhưng bao giờ chẳng có ruồi bay qua và ngứa ngáy. Vì vậy, cuộc sống thật là khó sống. Và những người ở trong trại biết rõ như vậy”.
Khi gặp họ, người quản lý trại báo là có một ông Othon nào đó muốn gặp. Y đưa Gonzalès vào buồng giấy, rồi dẫn họ tới một góc khán đài: đang ngồi riêng một mình, Othon đứng dậy tiếp họ. Ông ta vẫn quần áo như trước và vẫn mang cổ cứng. Nhưng Tarrou nhận thấy tóc hai bên thái dương ông ta bờm xờm và một chiếc dây giày xổ tung. Viên thẩm phán có vẻ mệt mỏi, và không hề nhìn người đối thoại. Ông nói là rất mừng được gặp họ và nhờ chuyển lời cảm ơn bác sĩ Rieux về những việc bác sĩ đã làm.
Mấy người kia im lặng.
Một lát sau, Othon nói: Tôi hy vọng rằng Philippe đã không quá đau đớn
Lần đầu tiên, Tarrou nghe ông ta gọi tên con và anh hiểu có cái gì đó đã thay đổi. Mặt trời xuống thấp về phía chân trời, và giữa hai dải mây, các tia nắng dọi ngang vào khán đài, nhuộm vàng cả ba khuôn mặt.
- Không, Tarrou đáp, không, quả là cháu không đau đớn.
Khi chia tay, Othon vẫn nhìn về phía mặt trời.
Tarrou và Rambert đến tạm biệt Gonzalès lúc đó đang nghiên cứu bảng cắt phiên canh gác. Anh chàng cầu thủ mỉm cười bắt tay họ:
- Ít ra tôi cũng đã thấy lại buồng thay áo quần, vẫn như cũ thôi.
Một lát sau, viên quản lý tiễn chân Tarrou và Rambert . Bỗng có tiếng rào rào trên khán đài. Loa phóng thanh trước đây dùng để thông báo kết quả các trận đấu hay giới thiệu các đội bóng, thì nay tuyên bố bằng một giọng mũi rằng những người trong trại phải trở về lều để nhận phần ăn buổi tối. Chậm rãi, người ta lê bước rời khỏi khán đài, trở về lều trại. Sau khi mọi người yên vị, hai chiếc xe điện nhỏ, như vẫn thường thấy trong các nhà ga, chạy qua giữa các lều chở những chiếc nồi to tướng. Người ta chìa cánh tay, hai cái muôi vục vào hai chiếc nồi rồi lại bỏ ra để cho vào trong hai cái cà mèn. Cỗ xe chuyển động đi sang lều thứ hai.
- Khoa học đấy, Tarrou bảo tay quản lý.
- Vâng, hắn đáp, vẻ thỏa mãn, và bắt tay họ, thế là khoa học.
Trời chạng vạng tối, bầu trời bớt mây. Một luồng ánh sáng dịu mát tỏa xuống trại. Trong cảnh chiều êm ả, từ khắp mọi phía nổi lên tiếng thìa, tiếng đĩa. Từng đàn dơi bay liệng trên lều trại và đột ngột biến mất. Phía ngoài các bức tường, một chuyến xe điện rít lên ở chỗ bẻ ghi đổi đường.
- Tội nghiệp ông dự thẩm, Tarrou thì thầm khi ông bước qua cổng trại. Phải làm một cái gì cho ông ta. Nhưng biết giúp đỡ một vị quan tòa như thế nào?
Trong thành phố, còn nhiều trại khác, nhưng vì cẩn trọng và thiếu thông tin trực tiếp nên người kể chuyện ở đây không thể nói gì nhiều hơn. Nhưng điều anh ta có thể nói, là sự tồn tại của những trại này, mùi con người từ trại thoát ra, tiếng oang oang của loa phóng thanh trong cảnh hoàng hôn, cái bí ẩn của các bức tường và nỗi niềm sợ hãi đối với những nơi đày đọa này, tất cả đè nặng lên tinh thần đồng bào chúng tôi và tăng thêm sự hoang mang, khó chịu của mọi người. Những sự rắc rối và xung đột với cơ quan Nhà nước tăng thêm.
Cuối tháng mười một, trời buổi sáng lạnh buốt. Những trận mưa xối xả rửa sạch hè phố, quét hết mây trên bầu trời, và đường phố bóng loáng. Sáng sáng, mặt trời yếu ớt tỏa xuống thành phố một thứ ánh sáng lấp lánh, giá lạnh. Trái lại, về chiều, không khí trở lại ấp áp. Đó là lúc Tarrou chọn để đến tâm tình đôi chút với bác sĩ Rieux.
Một hôm, lúc mười giờ, sau một ngày dài, mệt mỏi, Tarrou đi theo Rieux trong buổi đến thăm ông già bị hen suyễn vào buổi tối. Bầu trời dịu dàng tỏa sáng trên mái nhà trong cái khu phố cũ kỹ. Một làn gió nhẹ thoáng qua các ngã tư tối tăm. Đang từ những con đường vắng lặng tới đây, hai người bỗng rơi vào những câu chuyện huyên thuyên của ông lão. Ông bảo họ là có những người (trong trại cách ly) không đồng tình, là cái món ăn có bơ không bao giờ được thay đổi, là “đi đêm ắt có ngày gặp ma” và chắc chắn - đến đây lão vừa nói, vừa hai tay xoa vào nhau - sẽ có tình trạng lộn xộn, gây gổ. Trong lúc được bác sĩ chăm sóc, ông lão vẫn không ngớt bình luận các sự kiện.
Họ nghe có tiếng chân bước trên đầu. Bà lão trước vẻ chú ý của Tarrou, giải thích rằng có những bà hàng xóm trên sân thượng. Đồng thời, họ được biết đứng trên đó, có một tầm nhìn bao quát, và các dãy sân thượng thường có một phía liền nhau nên phụ nữ trong khu phố có thể đến thăm viếng nhau mà không cần ra khỏi nhà.
- Vâng, ông lão bảo, mời các ông lên. Không khí trên đó tốt lành.
Họ lên và thấy sân thượng vắng vẻ, chỉ có ba chiếc ghế tựa. Về một phía, xa tít tắp, ta nhìn thấy những mảnh sân thượng chạy dài và cuối cùng dựa vào một cái khối tối om và lởm chởm sỏi đá mà họ nhận ra là ngọn đồi thứ nhất. Phía kia, trên một vài đường phố và bến cảng bị che khuất, là chân trời, nơi trời và biển trộn lẫn vào nhau trong tiếng phập phồng mơ hồ. Bên kia các vách đá xa xa, một luồng sáng mà họ không thấy nguồn phát, xuất hiện một cách đều đặn: ngọn đèn pha trên eo biển, từ mùa xuân, tiếp tục chiếu sáng cho những con tàu quay mũi đi về những bến cảng khác. Trên bầu trời, gió quét hết mây, trở nên lóng lánh, những vì sao trong trẻo lấp lánh và luồng sáng xa xa của ngọn đèn pha, chốc chốc, dọi vào một màu tro thoáng qua. Một làn gió nhẹ mang đến mùi hương liệu và mùi đá sỏi. Cảnh vật im lặng như tờ.
- Ngồi đây thật thú vị. Rieux ngồi xuống và cất tiếng. Như thể dịch hạch không bao giờ mon men tới.
Tarrou quay lưng lại phía ông và nhìn ra biển.
- Vâng, anh nói một lát sau, thú vị thật.
Anh đến ngồi cạnh Rieux và đăm đăm nhìn ông. Ba lần, luồng ánh sáng xuất hiện trên bầu trời. Từ dưới đường phố, vẳng lên tiếng bát đĩa loảng xoảng. Dưới nhà, có tiếng kẹt cửa.
- Rieux này, Tarrou nói, giọng hết sức tự nhiên, anh chưa bao giờ tìm hiểu tôi là người thế nào cả. Anh có lòng mến tôi không?
- Có, bác sĩ Rieux đáp, tôi mến anh. Nhưng cho tới nay, chúng ta không có thì giờ.
- Tốt, điều đó làm tôi yên tâm, anh có muốn giờ này là giờ của tình thân mến không?
- Rieux chỉ mỉm cười thay cho câu trả lời:
- Vậy thì, thế này..
“Rieux này, để cho gọn, tôi xin nói là từ lâu, tôi đã từng đau khổ vì dịch hạch trước khi biết thành phố này và nạn dịch này. Tôi muốn nói là tôi cũng như mọi người thôi. Nhưng có người không biết đến tình trạng và hoặc thấy thoải mái nữa kia, cũng có người thì biết và muốn thoát ra khỏi. Riêng tôi, bao giờ tôi cũng muốn thoát ra.
“Lúc còn trẻ, tôi sống với ý niệm về sự ngây thơ của mình, nghĩa là không hề có ý niệm gì hết. Tôi không thuộc loại người hay băn khoăn, tôi bắt đầu cuộc đời một cách hợp lẽ. Tôi thành công trong mọi việc, tôi sống thoải mái trong sự hòa hợp, nhất là với phụ nữ, và nếu tôi có một vài nỗi lo âu thì cũng chỉ thoáng qua. Một hôm, tôi bắt đầu suy nghĩ. Giờ đây… “Tôi phải nói với anh là trước kia tôi không nghèo như anh. Cha tôi làm phó chưởng lý ở tòa thượng thẩm, một địa vị đấy chứ. Thế nhưng ông không tỏ dáng vẻ gì chưởng lý cả, vì vốn bản chất nhân hậu. Mẹ tôi sống đơn giản và kín đáo, lúc nào tôi cũng yêu mến mẹ tôi, nhưng tôi không muốn nói về bà. Bố tôi quan tâm tới tôi với lòng yêu thương và tôi còn nghĩ là ông tìm cách hiểu tôi. Ông có những chuyện yêu đương ở bên ngoài, bây giờ thì tôi tin chắc điều đó, và tôi cũng không hề vì vậy mà bực tức. Ông xử sự trong mọi việc đó đúng như ông phải xử sự, không làm phiền một ai hết. Để nói gọn, bố tôi không phải là người thật độc đáo, và bây giờ ông không còn nữa, tôi nhận thấy tuy ông không sống như một vị thánh, nhưng cũng không phải là một kẻ xấu. Ông giữ mức trung dung, chỉ có thế, và là kiểu người được người ta mến yêu một cách đúng mực khiến ông vẫn giữ nguyên phong cách sống của mình.
“Tuy vậy ông có một đặc điểm: cuốn sách chỉ nam đồ sộ về hoạt động của đường sắt là sách gối đầu giường của ông. Không phải vì ông thích đi du lịch, trừ vào dịp nghỉ hè, ông đến vùng Bretagne, nơi ông có một trang trại nhỏ. Nhưng ông có thể nói ngay với anh một cách chính xác giờ đi và đến của chuyến xe lửa Paris - Berlin, những sự phối hợp giờ tàu chạy để đi từ Lyon đến Varsovie, số kimômét chính xác giữa hai thủ đô tùy theo anh lựa chọn. Liệu anh có thể nói người ta đi từ Briançon đến Chamonix[6] như thế nào không?
Ngay một tay trưởng ga cũng phải bối rối. Bố tôi thì không. Tối nào, ông cũng lo tìm cách làm giàu thêm hiểu biết của mình về điểm này, và ông lấy thế làm tự hào. Điều đó làm tôi rất thú vị, và tôi thường đặt ra câu hỏi để sau đó hoan hỉ kiểm tra qua cuốn sách chỉ nam về đường sắt những câu trả lời của ông và thừa nhận ông không hề nhầm lẫn. Những trò nho nhỏ ấy gắn bó bố con chúng tôi lại với nhau rất nhiều, vì tôi trở thành một thính giả mà thiện chí được ông đánh giá cao. Còn tôi thì tôi thấy tính ưu việt của ông về đường sắt cũng có giá trị nhƣ mọi tính ưu việt khác.
“Nhưng thôi, tôi đã không tự kìm chế được mình và có nguy cơ quá đề cao con người trung hậu này. Vì, cuối cùng, bố tôi chỉ có ảnh hưởng gián tiếp đến quyết định của tôi. Nhiều lắm thì cũng chỉ tạo cho tôi một cơ hội. Quả vậy, lúc tôi mười bảy tuổi, ông bảo tôi đi nghe ông nói. Đây là một vụ án quan trọng, ở tòa đại hình, và chắc hẳn ông cụ nghĩ rằng ông sẽ xuất hiện trong diện mạo ưu tú nhất của mình. Tôi cũng cho là ông cụ trông mong vào cái nghi thức này nó có nhiều khả năng đánh vào trí tưởng tượng của tuổi trẻ để thúc đẩy tôi đi vào sự nghiệp mà bản thân ông đã lựa chọn. Tôi nhận lời, để làm vui lòng bố tôi và cũng vì tôi muốn tò mò nhìn ông, nghe ông nói trong một vai trò khác với vai trò ông vẫn đóng ở nhà. Tôi không hề nghĩ gì hơn. Bao giờ tôi cũng cho rằng tình hình xảy ra trong một tòa án cũng tự nhiên và tất yếu như một buổi duyệt binh ngày 14 tháng bảy[7] hay một buổi lễ phát phần thưởng. Tôi có một ý niệm rất trừu tượng về cái đó, và nó không hề làm tôi bối rối. “Nhưng tôi chỉ giữ lại của ngày hôm đó có một hình ảnh, hình ảnh người phạm tội. Quả là tôi tin y phạm tội, còn phạm tội gì thì không quan trọng. Nhưng con người bé nhỏ, tóc màu hung lơ thơ, trạc tuổi ba mươi ấy, tỏ vẻ muốn thừa nhận tất cả, kinh hoàng thành thực về việc mình đã làm và việc người ta sắp làm đối với mình, nên chỉ mấy phút sau, tôi chỉ còn đăm đăm nhìn vào y. Y có vẻ như một con chim cú hoảng sợ trước một luồng ánh sáng quá chói lọi. Nút cà vạt không thắt đúng chỗ vào giữa cổ áo. Y gặm gặm móng tay, nhưng chỉ trên bàn tay phải không thôi. Tóm lại, tôi xin khỏi nhấn mạnh, chắc anh hiểu đó là một con người đang sống giữa trần gian.
“Nhưng tôi, tôi bỗng đột ngột nhận ra điều đó, trong lúc cho đến nay, tôi chỉ nghĩ tới y thông qua cái loại người mà người ta đặt cho một cách dễ dàng cái tên gọi “bị cáo”. Tôi không thể nói là lúc đó, tôi quên bố tôi, nhưng có một cái gì như thắt ruột gan tôi lại, không cho tôi chú ý tới cái gì khác ngoài kẻ bị cáo. Hầu như tôi không nghe thấy gì hết, tôi có cảm giác người ta muốn giết chết con người đang sống này, và một bản năng dữ dội như một lớp sóng đưa tôi tới bên cạnh y với một thái độ khăng khăng mù quáng. Tôi chỉ thực sự tỉnh táo trở lại khi bố tôi đọc bản luận tội.
“Thay hình đổi dạng vì chiếc áo đỏ, không hiền lành và cũng không có vẻ yêu thương, mồm bố tôi phun ra những câu tràng giang đại hải, như thể phun ra những con rắn độc. Và tôi hiểu là ông yêu cầu, nhân danh xã hội, xử tử hình bị cáo, và thậm chí yêu cầu cắt cổ y. Đúng là ông chỉ nói: “Cái đầu ấy phải rơi”. Nhưng, xét cho cùng, chẳng khác nhau là mấy. Và quả là như thế, vì ông đã “được” cái đầu của bị cáo. Chỉ có điều là không phải ông làm cái công việc đó. Còn tôi, người theo dõi vụ án cho đến khi kết thúc, một cách tuyệt đối, với kẻ khốn khổ ấy, tôi có một tình cảm mật thiết và vô cùng sâu xa mà cha tôi không hề có bao giờ. Theo thủ tục, ông phải dự cái mà người ta gọi một cách lịch sự là “những phút cuối cùng”, nhưng đúng ra phải nói đó là hành vi giết người nhơ nhớp nhất.
“Từ ngày đó, tôi chỉ có thể nhìn cuốn sách chỉ nam về đường sắt một cách tởm lợm. Từ ngày đó, tôi kinh hãi theo dõi pháp luật, theo dõi những vụ xử tử hình, những vụ hành quyết, và choáng váng, tôi nhận thấy rằng bố tôi nhiều lần dự việc giết người và chính những ngày đó, ông dậy rất sớm. Đúng, trong những trường hợp ấy, ông để đồng hồ báo thức. Tôi không dám nói gì với mẹ tôi, nhưng tôi quan sát bà kỹ hơn và tôi hiểu giữa cha tôi và mẹ tôi không còn có gì nữa và mẹ tôi sống một cuộc sống thoát tục. Cái đó giúp tôi hiểu không có gì để tha thứ cho bà cả, vì suốt cuộc đời cho tới khi lấy chồng, mẹ tôi vẫn nghèo khổ và nghèo khổ đã tập cho bà thói quen nhẫn nhục.
“Chắc hẳn anh chờ tôi nói là tôi ra đi ngay. Không, tôi đã ở lại trong nhiều tháng, đến gần một năm. Nhưng tôi nhức nhối trong tim. Một buổi tối, bố tôi hỏi chiếc đồng hồ báo thức vì ông phải dậy sớm. Cả đêm hôm ấy, tôi không ngủ. Hôm sau, khi ông trở về nhà thì tôi đã ra đi. Tôi xin nói ngay là cha tôi cho tìm tôi, là tôi trở về gặp ông, và không giảng giải gì hết, tôi điềm tĩnh nói với ông là tôi sẽ tự sát nếu ông bắt tôi trở về. Cuối cùng ông chấp nhận vì bản tính ông vốn dịu hiền, giảng giải cho tôi về sự ngu ngốc khi muốn sống để ăn chơi cho thỏa thích (ông hiểu lý do xử sự của tôi là nhưvậy và tôi không hề cải chính), căn dặn tôi đủ điều, và cố kìm những giọt nước mắt chân thành muốn trào ra. Về sau, nhưng là sau một thời gian khá dài, tôi thường trở về đều đặn thăm mẹ tôi và tôi gặp bố tôi. Tôi tin rằng đối với ông, những quan hệ như vậy là đủ rồi. Tôi không thù oán ông, tôi chỉ hơi buồn trong lòng.
Khi ông mất, tôi đưa mẹ tôi về ở với tôi và chắc hẳn bà vẫn ở với tôi nếu bà còn sống.
“Tôi đã nhấn mạnh nhiều phần mở đầu này vì quả là nó mở đầu cho mọi chuyện. Bây giờ tôi kể nhanh hơn. Tôi nếm mùi đói khổ lúc mười tám tuổi, sau khi ra khỏi cảnh sung túc. Tôi làm đủ mọi nghề để kiếm sống. Tôi thành công khá dễ dàng. Nhưng cái làm tôi lưu tâm, là việc kết án tử hình. Tôi muốn làm sáng tỏ vấn đề người tội phạm đã bị xử. Vì vậy tôi làm chính trị, như người ta thường nói. Tôi không muốn làm một kẻ mang mầm mống dịch hạch, chỉ có thế thôi. Tôi nghĩ cái xã hội tôi đang sống là xã hội dựa trên sự kết án tử hình, và bằng cách chống lại xã hội ấy, tôi chống lại sự giết người. Tôi nghĩ như vậy, những người khác bảo tôi như vậy, và, tóm lại, cái đó chủ yếu là đúng. Vì vậy tôi đến ở với những người tôi hằng yêu mến và không tôi ngớt yêu mến. Tôi ở với họ lâu và không có nước nào ở châu Âu mà tôi không cùng chia sẻ những cuộc đấu tranh. Xin cho qua.
“Dĩ nhiên, tôi cũng biết rằng, cả chúng ta nữa, có lúc nào đó, chúng ta cũng tuyên án tử hình. Nhưng người ta bảo tôi một vài cái chết ấy là cần thiết để đi tới một thế giới trong đó người ta không giết chết một ai nữa. Điều đó đúng một cách nào đó, nhưng dẫu sao, có lẽ tôi cũng không thể tin chắc vào loại chân lý ấy. Có điều chắc chắn, là tôi ngập ngừng. Nhưng tôi nghĩ tới người tội phạm, và có thể vẫn ngập ngừng như thế. Cho tới ngày tôi chứng kiến một vụ hành quyết (ở Hongrie), và cơn choáng váng đã từng xâm chiếm đứa trẻ là tôi ngày trước, đến lúc ấy, đã làm mờ cặp mắt người lớn của tôi.
“Anh chưa bao giờ nhìn thấy người ta bắn một con người phải không? Chắc hẳn là không, và thường người đến dự phải có giấy mời và được lựa chọn từ trước. Kết quả là anh chỉ dừng lại ở tranh ảnh và sách vở. Một giải vải bịt mắt, một cây cọc, và mấy người lính xa xa. Không, không phải thế! Anh có biết là trái lại, phân đội súng trường chỉ đứng cách người bắn có một mét rưỡi không? Anh có biết là giá người này bước lên hai bước thì ngực đụng phải những khẩu súng kia không? Anh có biết là cách một quãng ngắn như vậy, những tay súng tập trung phát đạn vào vùng tim người bị bắn và cả bọn chúng, với những viên đạn to tướng, chúng khoét rộng một cái lỗ bỏ được cả nắm tay vào trong đó không? Không, anh không biết những điều ấy vì đó là những chi tiết người ta không nói tới. Giấc ngủ của con người thiêng liêng hơn cuộc sống đối với những ngƣời mang mầm mống dịch hạch. Không được ngăn cản giấc ngủ của những con người trung hậu. Phải là bất nhã mới hành động như vậy còn nhã nhặn thì không, ai cũng hiểu điều đó. Dư vị của sự bất nhã ấy vẫn đọng lại trong miệng tôi, tôi không sao dứt bỏ được.
“Lúc đó, tôi hiểu rằng ít ra, trong những năm tháng dằng dặc ấy tôi vẫn là một kẻ mang mầm mống dịch hạch tuy một mực đinh ninh là chính mình chống lại dịch hạch. Tôi biết mình đã gián tiếp đồng tình với cái chết của hàng nghìn con người, thậm chí đã gây nên chết chóc vì công nhận là tốt những hành vi và nguyên tắc tất yếu đem lại cái chết. Những người khác thì không bối rối vì cái đó, hay chí ít không bao giờ bộc phát nói ra. Còn tôi, tôi thấy cổ họng bị nghẹn lại. Tôi cùng sống với họ, nhưng tôi vẫn một mình, cô đơn. Khi tôi nói lên nỗi lòng băn khoăn của mình, họ bảo tôi phải nghĩ tới cái “trong cuộc” và họ đưa ra những lý lẽ thường rất hùng hồn để buộc tôi phải nuốt cái tôi không sao nuốt nổi. Nhưng tôi đáp lại là trong những trường hợp ấy, những kẻ quyền quý, những vị mặc áo đỏ và mang mầm mống dịch hạch cũng có những lý lẽ tuyệt vời? và trong khi chấp nhận những lý lẽ không thể chối cãi và những nhu cầu của những con người bé nhỏ mang dịch bệnh, tôi cũng không thể bác bỏ lý lẽ của những kẻ quyền cao chức trọng. Họ lưu ý tôi rằng muốn biện hộ cho những kẻ mặc áo đỏ thì cách tốt nhất là để cho họ cái quyền độc tôn kết án. Nhưng lúc đó, tôi nghĩ bụng nếu đã nhượng bộ một lần thì không có lý do gì để dừng lại nữa. Tôi thấy hình như lịch sử đã biện hộ cho tôi: ngày nay, người ta đua nhau chém giết. Tất cả bọn họ đều điên cuồng chém giết, và họ không sao làm khác.
“Dẫu sao, cái tôi băn khoăn cũng không phải là lý lẽ, mà chính là câu chuyện người tội phạm bị án tử hình, cái câu chuyện bẩn thỉu trong đó những cái mồm bẩn thỉu nhiễm dịch hạch tuyên bố với một người đang bị xiềng xích là anh ta sẽ chết, và quả thật đã làm mọi việc cho anh ta chết, sau biết bao đêm hấp hối, hai mắt trân trân, chờ đợi cái chết. Cái tôi băn khoăn là cái lỗ thủng trong lồng ngực. Tôi tự bảo mình, trong lúc chờ đợi, và ít ra cũng cho riêng mình, là tôi sẽ không bao giờ biện hộ, dù chỉ một lần, anh nghe không, cho cảnh chém giết kinh tởm ấy. Vâng, tôi đã chọn sự mù quáng khăng khăng ấy trong lúc chờ tìm xem một cách sáng rõ hơn.
“Từ ấy, tôi vẫn không thay đổi. Từ lâu, tôi hổ thẹn, hổ thẹn đến chết đi được, vì đã từng làm một đứa giết người, dù là từ xa, dù là với thiện chí. Cùng với thời gian, tôi chỉ nhận thấy rằng ngày nay, ngay cả những kẻ tốt hơn những người khác cũng không tự ngăn cản được mình chém giết hay ngăn cản kẻ khác giết, vì đấy là lôgich cuộc sống của họ và vì trên đời này không thể làm một cử chỉ nào mà lại không có nguy cơ gây nên cái chết. Vâng, tôi tiếp tục thấy hổ thẹn - tôi hiểu điều đó - là tất cả chúng ta đều ở trong tình trạng dịch hạch và tôi không còn được yên ổn nữa. Ngày nay, tôi vẫn còn tìm kiếm sự yên ổn ấy bằng cách cố gắng tìm hiểu mọi người và cố gắng không làm kẻ tử thù đối với một ai hết. Tôi chỉ biết mình phải làm điều cần làm để không còn là một người mang mầm mống dịch hạch nữa, và chỉ có như thế mới có thể làm chúng ta hy vọng sự yên ổn, hoặc nếu không đƣợc yên ổn nữa, thì cũng một cái chết tử tế. Chính có như thế mới có thể an ủi con người, và nếu không cứu thoát đƣợc họ, thì chí ít cũng mang lại cho họ ít tai họa nhất, thậm chí có khi còn có thể đưa tới cho họ một chút điều tốt lành. Và chính vì vậy, tôi quyết định khước từ tất cả những gì, dù xa hay gần, dù vì lý do này hay lý do khác, làm người ta chết hay biện hộ cho việc làm nguời ta chết.
“Và cũng còn chính vì vậy, nạn dịch bệnh này chẳng dạy tôi được bài học gì hết, nếu không phải là bài học phải đứng bên cạnh các anh chống lại nó. Tôi biết đích xác (vâng, anh Rieux ạ, tôi biết hết về đời, anh đã thấy rõ đấy) là mỗi người đều mang mầm mống dịch hạch trong mình, bởi vì không một ai, vâng, không một ai trên đời này được miễn trừ cả. Và tôi biết là phải không ngớt tự kiểm soát mình để khỏi, trong một phút lơ là nào đó, thở vào mặt người bên cạnh, làm anh ta bị lây nhiễm. Cái tự nhiên, là con vi trùng. Còn nữa, sức khỏe, sự toàn vẹn, cái tinh khiết, nếu anh muốn, đó là tác dụng của ý chí, và là của một ý chí không bao giờ biết nghỉ ngơi. Con người chính trực, con người hầu như không làm một ai bị lây nhiễm, đó là con người ít lơ đãng hơn ai hết. Và phải có ý chí và sức tập trung để không bao giờ lơ đãng cả! Vâng, anh Rieux ạ, làm một kẻ mang mầm mống dịch hạch, thì thật là ngán. Nhưng không muốn làm một người như thế, còn ngán hơn. Chính vì vậy ngày nay ai nấy đều tỏ ra chán ngán, ngày nay, ai nấy đều tự thấy mình ít nhiều có mang mầm mống dịch hạch. Nhưng cũng chính vì vậy một đôi người, vì muốn không còn mang dịch bệnh nữa nên chán ngán đến cực điểm, và chỉ có cái chết mới giải thoát được họ.
“Từ nay tới đó, tôi biết là tôi chẳng còn giá trị gì nữa đối với bản thân cái thế giới này, và bắt đầu từ khi tôi từ chối việc giết chóc, tôi đã tự khép mình vào một cảnh lưu đày vĩnh viễn. Làm lịch sử sẽ là những người khác. Tôi cũng biết là rõ ràng tôi không thể phán xét những người khác đó. Có một tư cách tôi không có để làm một kẻ giết người có lý trí. Vì vậy đó không phải là một ưu thế. Nhưng giờ đây, tôi chấp nhận mình là mình, tôi đã học được bài học khiêm tốn. Tôi chỉ nói là trên trái đất này có những tai họa và những nạn nhân, và cần phải hết sức mình chối từ không “đánh bạn” với tai họa. Có lẽ anh thấy như thế là có phần giản đơn, và tôi không rõ cái đó có giản đơn hay không, nhưng tôi biết cái đó là đúng. Tôi đã từng nghe biết bao lý lẽ suýt làm tôi điên đầu, và đã từng làm cho những cái đầu khác điên lên tới mức họ chấp nhận việc giết người, và vì vậy tôi đã hiểu rằng tất cả tai họa của con người đều bắt nguồn ở chỗ họ không có một hành vi ngôn ngữ cho rõ ràng. Thế là tôi quyết định nói năng và hành động cho rõ ràng, để bước theo con đường đúng. Bởi vậy, tôi nói là có tai họa và nạn nhân, và chỉ có thế thôi. Nếu khi nói như vậy, bản thân tôi cũng trở thành tai họa, thì ít ra, tôi cũng không phải là kẻ muốn như vậy. Tôi cố sức làm một kẻ giết người vô tội. Anh thấy thế không phải là một tham vọng lớn chứ.
“Dĩ nhiên, cần có một loại người thứ ba, loại những người thầy thuốc chân chính, nhưng thực tế, người ta không thấy có nhiều và đó là điều khó khăn. Vì vậy tôi quyết định đứng về phía các nạn nhân, trong mọi trường hợp, để hạn chế bớt thiệt hại. Đứng trong hàng ngũ họ, chí ít tôi cũng tìm hiểu được người ta làm thế nào để đạt tới loại thứ ba, nghĩa là tìm thấy sự yên ổn”.
Kết thúc lời tâm sự, Tarrou đung đưa cặp đùi và lấy chân gõ nhẹ lên sàn sân thượng. Im lặng một lát, bác sĩ Rieux hơi nhướn mình lên và hỏi Tarrou có suy nghĩ gì về con đường anh phải đi để tìm thấy sự yên ổn không.
- Có, sự đồng cảm.

---------------------

[6] Hai thành phố nhỏ ở Pháp.
[7] Ngày Quốc khánh Pháp